Bài 34: Sự đồng quy của ba đường trung tuyến, ba đường phân giác trong tam giác
Khám phá định lí về sự đồng quy của ba đường trung tuyến (trọng tâm G) và ba đường phân giác (tâm đường tròn nội tiếp I) trong tam giác.
Bài 34: Sự đồng quy của ba đường trung tuyến, ba đường phân giác trong tam giác
Trọng tâm $G$ và tâm đường tròn nội tiếp $I$ — Tính chất đồng quy kì diệu của tam giác
Đường trung tuyến của tam giác; Trọng tâm của tam giác; Đường phân giác của tam giác.
- Nhận biết đường trung tuyến, trọng tâm, đường phân giác của một tam giác.
- Hiểu và giải thích được tính chất đồng quy của ba đường trung tuyến, ba đường phân giác.
- Vận dụng tính chất trọng tâm và phân giác để giải quyết các bài toán hình học và thực tiễn.
Đặt đỉnh của một chiếc giá nhọn vào điểm nào của một tam giác bằng bìa thì ta có thể đặt thăng bằng miếng bìa đó trên chiếc giá nhọn?
(Hình 9.26: Một miếng bìa tam giác được giữ thăng bằng hoàn hảo tại một điểm đặc biệt nằm bên trong tam giác).
Đường trung tuyến của tam giác:
Trong tam giác $ABC$, lấy $M$ là trung điểm của cạnh $BC$. Đoạn thẳng $AM$ nối đỉnh $A$ với trung điểm $M$ của cạnh đối diện $BC$ gọi là đường trung tuyến (xuất phát từ đỉnh $A$ hoặc ứng với cạnh $BC$) của tam giác $ABC$.Đôi khi, đường thẳng $AM$ cũng được gọi là đường trung tuyến của tam giác $ABC$.
Cắt một hình tam giác bằng giấy. Gấp đôi tam giác sao cho hai đỉnh $B$ và $C$ trùng nhau để xác định trung điểm $M$ của cạnh $BC$. Nếp gấp đi qua đỉnh $A$ và trung điểm $M$ là đường trung tuyến $AM$. Tương tự, gấp để tìm hai đường trung tuyến còn lại.
👉 Nhận xét: Ba nếp gấp (ba đường trung tuyến) cùng đi qua một điểm bên trong tam giác!
Trên giấy kẻ ô vuông kích thước $10 \times 10$, vẽ tam giác $ABC$, hai đường trung tuyến $BN, CP$ cắt nhau tại $G$. Tia $AG$ cắt cạnh $BC$ tại $M$.
- a) Điểm $M$ chính là trung điểm của cạnh $BC$. Do đó đường thẳng $AG$ chính là đường trung tuyến thứ ba của tam giác $ABC$.
- b) Đếm số ô vuông dọc theo mỗi đường trung tuyến, ta nhận thấy: $$\frac{GA}{MA} = \frac{GB}{NB} = \frac{GC}{PC} = \frac{2}{3}$$
Ba đường trung tuyến của một tam giác cùng đi qua một điểm (hay cùng đồng quy tại một điểm).
Điểm gặp nhau đó gọi là trọng tâm của tam giác đó.
Trọng tâm của một tam giác cách mỗi đỉnh một khoảng bằng $\frac{2}{3}$ độ dài đường trung tuyến đi qua đỉnh ấy:
Cho tam giác $ABC$ có hai đường trung tuyến $AM, BN$ cắt nhau tại $G$. Chứng minh rằng $GA = 2GM$.
Xem lời giải chi tiết
Vì hai đường trung tuyến $AM, BN$ cắt nhau tại $G$ nên $G$ là trọng tâm của tam giác $ABC$.
Theo Định lí 1, ta có: $GA = \frac{2}{3}AM$.
Mặt khác: $GM = AM - GA = AM - \frac{2}{3}AM = \frac{1}{3}AM$.
Do đó: $\frac{GA}{GM} = \frac{\frac{2}{3}AM}{\frac{1}{3}AM} = 2 \implies GA = 2GM$ (đpcm).
Trong Hình 9.31, cho biết $GN = 1\text{ cm}$. Tính độ dài các đoạn thẳng $GB$ và $NB$.
Xem lời giải chi tiết
Vì $G$ là trọng tâm của tam giác $ABC$ nên:
$$GB = 2GN \implies GB = 2 \cdot 1 = 2\text{ (cm)}$$
Độ dài đoạn thẳng $NB$ là:
$$NB = GB + GN = 2 + 1 = 3\text{ (cm)}$$
Kết luận: $GB = 2\text{ cm}$ và $NB = 3\text{ cm}$.
Vuông: "Để xác định trọng tâm của một tam giác, ta chỉ cần vẽ hai đường trung tuyến rồi tìm giao điểm của chúng."
Tròn: "Tớ nghĩ phải vẽ cả ba đường trung tuyến chứ."
Bạn nào đúng?
Trả lời câu hỏi trong phần Mở đầu: Đặt đỉnh của một chiếc giá nhọn vào điểm nào của một tam giác bằng bìa thì ta có thể đặt thăng bằng miếng bìa đó trên chiếc giá nhọn?
Xem lời giải
Đường phân giác của tam giác:
Trong tam giác $ABC$, tia phân giác của góc $A$ cắt cạnh $BC$ tại điểm $D$. Đoạn thẳng $AD$ gọi là đường phân giác (xuất phát từ đỉnh $A$) của tam giác $ABC$.Đôi khi, đường thẳng $AD$ cũng được gọi là đường phân giác của tam giác $ABC$.
Mỗi tam giác có đúng ba đường phân giác xuất phát từ ba đỉnh.
Cắt một hình tam giác bằng giấy. Gấp tam giác sao cho cạnh $AB$ trùng với cạnh $AC$. Nếp gấp đi qua đỉnh $A$ chính là đường phân giác của góc $A$. Tương tự, gấp để tìm hai đường phân giác còn lại.
👉 Kết quả: Ba nếp gấp (ba đường phân giác) cùng đi qua một điểm $I$ bên trong tam giác!
Ba đường phân giác của một tam giác cùng đi qua một điểm. Điểm này cách đều ba cạnh của tam giác đó.
(Trong đó $H, K, L$ lần lượt là hình chiếu vuông góc của $I$ trên ba cạnh $BC, CA, AB$. Điểm $I$ là tâm đường tròn nội tiếp tam giác).
Cho tam giác $ABC$ cân tại $A$. Chứng minh rằng điểm $I$ (giao điểm của ba đường phân giác) nằm trên đường trung tuyến xuất phát từ đỉnh $A$.
Xem lời giải chi tiết
Gọi $AD$ là đường phân giác của góc $A$ ($D \in BC$).
Vì $\Delta ABC$ cân tại $A$ nên $AB = AC$ và $\widehat{B} = \widehat{C}$.
Xét $\Delta ABD$ và $\Delta ACD$ có: $AB = AC$, $\widehat{BAD} = \widehat{CAD}$ (do $AD$ là phân giác), cạnh $AD$ chung.
Do đó $\Delta ABD = \Delta ACD\text{ (c.g.c)} \implies BD = CD$.
Vậy $D$ là trung điểm của cạnh $BC$, suy ra đoạn thẳng $AD$ cũng chính là đường trung tuyến xuất phát từ đỉnh $A$ của tam giác $ABC$.
Mặt khác, theo Định lí 2, giao điểm $I$ của ba đường phân giác nằm trên đường phân giác $AD$. Do đó điểm $I$ nằm trên đường trung tuyến xuất phát từ đỉnh $A$ (đpcm).
Cho tam giác $ABC$ có hai đường phân giác $BE, CF$ cắt nhau tại $I$. Chứng minh rằng: $$\widehat{BIC} = 180^\circ - \frac{1}{2}(\widehat{B} + \widehat{C}) = 90^\circ + \frac{1}{2}\widehat{A}$$
Xem lời giải chi tiết
Trong $\Delta IBC$, tổng ba góc bằng $180^\circ$, ta có:
$$\widehat{BIC} = 180^\circ - (\widehat{IBC} + \widehat{ICB})$$
Vì $BE, CF$ lần lượt là phân giác của $\widehat{B}$ và $\widehat{C}$ nên:
$$\widehat{IBC} = \frac{1}{2}\widehat{B}, \quad \widehat{ICB} = \frac{1}{2}\widehat{C} \implies \widehat{IBC} + \widehat{ICB} = \frac{1}{2}(\widehat{B} + \widehat{C})$$
Suy ra: $\widehat{BIC} = 180^\circ - \frac{1}{2}(\widehat{B} + \widehat{C})$.
Mặt khác, trong $\Delta ABC$: $\widehat{B} + \widehat{C} = 180^\circ - \widehat{A}$. Thay vào đẳng thức trên:
$$\widehat{BIC} = 180^\circ - \frac{1}{2}(180^\circ - \widehat{A}) = 180^\circ - 90^\circ + \frac{1}{2}\widehat{A} = 90^\circ + \frac{1}{2}\widehat{A}\text{ (đpcm)}.$$
Một mảnh đất hình tam giác có ba hàng rào bao quanh. Người chủ muốn đào một cái giếng bên trong mảnh đất sao cho giếng cách đều ba hàng rào đó. Hỏi người chủ phải chọn vị trí đào giếng ở đâu?
Xem vị trí tối ưu
Xem mảnh đất là tam giác $ABC$, ba hàng rào là ba cạnh $AB, BC, CA$.
Theo Định lí 2, điểm cách đều ba cạnh của một tam giác chính là giao điểm của ba đường phân giác của tam giác đó.
👉 Người chủ cần xác định giao điểm của hai trong ba đường phân giác của tam giác tạo bởi ba hàng rào để chọn làm vị trí đào giếng.
Cho tam giác $ABC$ với hai đường trung tuyến $BN, CP$ và trọng tâm $G$. Hãy tìm số thích hợp đặt vào dấu "?" để được các đẳng thức:
Xem lời giải chi tiết
Vì $G$ là trọng tâm của tam giác $ABC$ nên theo tính chất ba đường trung tuyến:
- $BG = \frac{2}{3}BN$ và $CG = \frac{2}{3}CP$. Số thích hợp là $\mathbf{\frac{2}{3}}$.
- Vì $BG = \frac{2}{3}BN$ nên $GN = \frac{1}{3}BN \implies BG = 2GN$.
- Tương tự, $CG = \frac{2}{3}CP$ nên $GP = \frac{1}{3}CP \implies CG = 2GP$. Số thích hợp là $\mathbf{2}$.
Chứng minh rằng:
- a) Trong một tam giác cân, hai đường trung tuyến ứng với hai cạnh bên là hai đoạn thẳng bằng nhau.
- b) Ngược lại, nếu tam giác có hai đường trung tuyến bằng nhau thì tam giác đó cân.
Xem lời giải chi tiết
a) Chiều thuận: Giả sử $\Delta ABC$ cân tại $A$ ($AB = AC$). Gọi $BN, CP$ là hai đường trung tuyến ứng với hai cạnh bên.
Ta có $AN = NC = \frac{1}{2}AC$ và $AP = PB = \frac{1}{2}AB$. Do $AB = AC$ nên $NC = PB$.
Xét $\Delta BNC$ và $\Delta CPB$ có: $BC$ là cạnh chung, $\widehat{NBC} = \widehat{PCB}$ (do $\Delta ABC$ cân tại $A$), $NC = PB$.
Suy ra $\Delta BNC = \Delta CPB\text{ (c.g.c)} \implies BN = CP$ (hai cạnh tương ứng, đpcm).
b) Chiều đảo: Giả sử $\Delta ABC$ có hai đường trung tuyến $BN = CP$ cắt nhau tại trọng tâm $G$.
Theo tính chất trọng tâm: $GB = \frac{2}{3}BN$ và $GC = \frac{2}{3}CP$. Do $BN = CP$ nên $GB = GC$.
Suy ra $\Delta GBC$ cân tại $G \implies \widehat{GBC} = \widehat{GCB}$.
Đồng thời $GN = \frac{1}{3}BN = \frac{1}{3}CP = GP$.
Xét $\Delta GNB$ và $\Delta GPC$ có: $GB = GC$, $\widehat{NGB} = \widehat{PGC}$ (đối đỉnh), $GN = GP$.
Suy ra $\Delta GNB = \Delta GPC\text{ (c.g.c)} \implies NB = PC \implies 2NB = 2PC \implies AB = AC$.
Vậy tam giác $ABC$ cân tại $A$ (đpcm).
Cho tam giác $ABC$ có các đường trung tuyến $BM$ và $CN$ cắt nhau tại $G$. Biết góc $GBC$ lớn hơn góc $GCB$. Hãy so sánh $BM$ và $CN$.
Xem lời giải chi tiết
Trong tam giác $GBC$, cạnh đối diện với $\widehat{GBC}$ là cạnh $GC$, cạnh đối diện với $\widehat{GCB}$ là cạnh $GB$.
Theo giả thiết $\widehat{GBC} > \widehat{GCB}$, áp dụng quan hệ giữa cạnh và góc đối diện trong tam giác $GBC$, ta có: $GC > GB$.
Vì $G$ là trọng tâm của tam giác $ABC$ nên:
$$GC = \frac{2}{3}CN \quad \text{và} \quad GB = \frac{2}{3}BM$$
Do $GC > GB$ nên $\frac{2}{3}CN > \frac{2}{3}BM \implies CN > BM$.
Kết luận: $CN > BM$ (đường trung tuyến $CN$ dài hơn đường trung tuyến $BM$).
Kí hiệu $I$ là điểm đồng quy của ba đường phân giác trong tam giác $ABC$. Tính góc $BIC$ khi biết góc $BAC = 120^\circ$.
Xem lời giải chi tiết
Trong tam giác $ABC$, tổng ba góc bằng $180^\circ$ nên:
$$\widehat{ABC} + \widehat{ACB} = 180^\circ - \widehat{BAC} = 180^\circ - 120^\circ = 60^\circ$$
Vì $I$ là giao điểm của ba đường phân giác nên $BI$ và $CI$ là phân giác của $\widehat{ABC}$ và $\widehat{ACB}$:
$$\widehat{IBC} = \frac{1}{2}\widehat{ABC}, \quad \widehat{ICB} = \frac{1}{2}\widehat{ACB} \implies \widehat{IBC} + \widehat{ICB} = \frac{1}{2}(\widehat{ABC} + \widehat{ACB}) = \frac{1}{2} \cdot 60^\circ = 30^\circ$$
Xét tam giác $IBC$, ta có:
$$\widehat{BIC} = 180^\circ - (\widehat{IBC} + \widehat{ICB}) = 180^\circ - 30^\circ = 150^\circ$$
Đáp số: $\widehat{BIC} = 150^\circ$.
Gọi $BE$ và $CF$ là hai đường phân giác của tam giác $ABC$ cân tại $A$. Chứng minh rằng $BE = CF$.
Xem lời giải chi tiết
Vì tam giác $ABC$ cân tại $A$ nên $\widehat{ABC} = \widehat{ACB}$.
Do $BE$ và $CF$ là hai tia phân giác của $\widehat{ABC}$ và $\widehat{ACB}$ nên:
$$\widehat{EBC} = \frac{1}{2}\widehat{ABC} = \frac{1}{2}\widehat{ACB} = \widehat{FCB}$$
Xét hai tam giác $\Delta EBC$ và $\Delta FCB$ có:
- $\widehat{EBC} = \widehat{FCB}$ (chứng minh trên)
- Cạnh $BC$ chung
- $\widehat{ECB} = \widehat{FBC}$ (do $\widehat{ACB} = \widehat{ABC}$)
Suy ra $\Delta EBC = \Delta FCB\text{ (g.c.g)}$.
Do đó $BE = CF$ (hai cạnh tương ứng, đpcm).
Trong tam giác $ABC$, hai đường phân giác của các góc $B$ và $C$ cắt nhau tại $D$. Kẻ $DP \perp BC$, $DQ \perp CA$, $DR \perp AB$.
a) Hãy giải thích tại sao $DP = DR$.
b) Hãy giải thích tại sao $DP = DQ$.
c) Từ câu a và b suy ra $DR = DQ$. Tại sao $D$ nằm trên tia phân giác của góc $A$?
(Đây là một cách chứng minh Định lí 2 trong SGK).
Xem lời giải chi tiết
a) Điểm $D$ nằm trên tia phân giác của góc $B$, mà $DP \perp BC, DR \perp AB$. Mọi điểm trên tia phân giác của một góc cách đều hai cạnh của góc đó, nên $DP = DR$.
(Hoặc xét hai tam giác vuông $\Delta DBP$ và $\Delta DBR$ có cạnh huyền $BD$ chung, $\widehat{DBP} = \widehat{DBR} \implies \Delta DBP = \Delta DBR\text{ (cạnh huyền - góc nhọn)} \implies DP = DR$).
b) Tương tự, điểm $D$ nằm trên tia phân giác của góc $C$, mà $DP \perp BC, DQ \perp CA$ nên $DP = DQ$.
c) Vì $DP = DR$ và $DP = DQ$ nên suy ra $DR = DQ$.
Điểm $D$ nằm bên trong góc $A$ và cách đều hai cạnh $AB, AC$ ($DR = DQ$). Điểm nằm bên trong góc và cách đều hai cạnh của góc thì nằm trên tia phân giác của góc đó. Do đó, điểm $D$ nằm trên tia phân giác của góc $A$.
Như vậy, tia phân giác của góc $A$ cũng đi qua điểm $D$. Vậy ba đường phân giác của tam giác cùng đi qua điểm $D$ và $D$ cách đều ba cạnh ($DP = DQ = DR$).
• Cùng đồng quy tại điểm $G$ gọi là trọng tâm.
• Tỉ số vàng: $\frac{GA}{AM} = \frac{GB}{BN} = \frac{GC}{CP} = \frac{2}{3}$.
• $GA = 2GM, GB = 2GN, GC = 2GP$.
• Cùng đồng quy tại điểm $I$.
• Điểm $I$ cách đều ba cạnh của tam giác: $IH = IK = IL = r$.
• Điểm $I$ là tâm đường tròn nội tiếp tam giác.